Tôm Việt Nam có thêm lợi thế vào Mỹ
 |
| Cần tính tới bài toán đa dạng hoá thị trường và sản phẩm. |
Việc đối thủ cạnh tranh trực tiếp là Thái Lan phải chịu thuế suất trung bình cao tới 6,03% đang giúp các doanh nghiệp Việt Nam tự tin hơn khi làm ăn tại thị trường Mỹ, đồng thời hy vọng các cơ quan công quyền nơi đây tiếp tục có những phán quyết công minh hơn với tôm của cả 6 nước.
Căn cứ theo phán quyết cuối cùng mà Bộ Thương mại Mỹ (DOC) công bố rạng sáng nay, giới quan sát cho rằng, doanh nghiệp tôm Brazil sẽ quay lại với thị trường quan trọng này nhất là khi thuế suất bình quân được giảm từ 36,9% xuống còn 10,4%. Ấn Độ cũng nhẹ gánh hơn khi thuế suất bình quân giảm từ 14,2% xuống 9,45%. Ecuador được hưởng mức thuế thấp nhất với mức bình quân 3,26% và một số công ty của họ chỉ phải chịu thuế trên 2%.
Riêng trường hợp Thái Lan, phán quyết kể trên đã đi ngược lại hoàn toàn so với mong muốn mà chính quyền Bangkok thể hiện trong các tuyên bố gần đây. Thuế suất bình quân với các doanh nghiệp nước này chỉ giảm không đáng kể, từ 6,39% xuống 6,03%. Điều này càng trở nên bất lợi khi đối thủ cạnh tranh trực tiếp của họ trên thị trường Mỹ là Việt Nam đã được hưởng thuế suất thấp hơn chút ít. Theo phán quyết hôm 1/12 vừa qua, 93% các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam chỉ chịu thuế trong khoảng 4-5%.
Theo giới quan sát, nhìn chung mức thuế với các nước (trừ Trung Quốc) không quá cao đến mức khiến họ phải rời bỏ thị trường Mỹ. Và ngay cả trường hợp đến 31/1/2005, Uỷ ban Hiệp thương Quốc tế Mỹ (USITC) có ra phán quyết khẳng định ngành sản xuất nội địa đã bị gây thiệt hại vật chất thì giá bán tôm vào thị trường Mỹ cũng không tăng quá cao. Dự kiến với mặt bằng thuế suất hiện nay, mức giá mới nếu có cao hơn thì cũng chỉ tăng khoảng 0,5-1 USD/pound. Chính vì vậy, lượng tôm tiêu thụ tại Mỹ sẽ không bị sụt giảm như lo ngại trước đây, khi mà bên nguyên đơn đề xuất mức thuế cao tới 200% cho tất cả các nước. Các chuyên gia cho rằng, nếu nền kinh tế Mỹ tiếp tục sáng sủa thì lượng tôm nhập trong năm tới chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều so với năm nay.
Trao đổi với VnExpress sáng nay, Tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thuỷ sản (VASEP) Nguyễn Hữu Dũng cho rằng, những thay đổi tích cực kể trên là kết quả của sự thay đổi "nho nhỏ" trong phương pháp tính thuế của DOC. Trước đây, khi so sánh giá tôm giữa các nước để tìm ra biên độ phá giá, DOC đã đánh đồng tất cả các cỡ tôm với nhau. Trong khi đó, sản phẩm tôm tiêu thụ trên thị trường có nhiều loại và nhiều kích cỡ khác nhau. Chấp thuận đề nghị của luật sự bên bị đơn, DOC đã tiến hành phân cỡ khi so sánh giá tôm để tính thuế. "Dù là thay đổi nhỏ, song việc làm của DOC cũng đáng được ghi nhận vì phương pháp tiếp cận của họ đã sát thực tế hơn, sát với diễn biến thị trường hơn", ông Dũng nói.
Tuy nhiên, theo ông Dũng, cũng như 5 nước khác, Việt Nam vẫn mong chờ vào các phán quyết công minh tiếp theo của cơ quan công quyền Mỹ. "Hiện VASEP vẫn còn 2 đề nghị. Trước hết, đó là tôm Việt Nam hoàn toàn không bán phá giá vào thị trường Mỹ, không gây thiệt hại với tôm Mỹ vì vậy USITC cần sáng suốt trong phán quyết cuối cùng của mình tới đây. Hai là, VASEP đề nghị DOC xem xét lại mức thuế với các doanh nghiệp đang chịu thuế suất cao hơn 25% của Việt Nam", ông cho biết thêm.
Về chiến lược phát triển thị trường cho tôm Việt Nam, ông Dũng cho rằng cần phải chờ đến phán quyết cuối cùng của USITC mới có thể được hoạch định rõ ràng. Tuy nhiên, theo ông, ngay từ bây giờ, các doanh nghiệp cần phải chuẩn bị cho một kế hoạch vững chắc hơn. "Chất lượng là vấn đề số 1. Phải làm sao cho sản phẩm tôm của Việt Nam có chất lượng hơn, mà muốn như vậy thì phải làm tốt ngay từ khâu nguyên liệu. Tiếp đó là việc đa dạng hoá sản phẩm. Trong thông báo của DOC, có một số sản phẩm không là đối tượng chịu thuế như tôm ngâm bột, bao bột, tôm làm nguyên liệu chế biến trong các sản phẩm khác. Nếu mình tập trung vào các mặt hàng này có thể sẽ tránh được thuế", ông Dũng nói.
Ngoài ra, theo ông Dũng, việc tạo kênh phân phối bài bản đi vào thị trường Mỹ cũng là mối quan tâm số 1 của ngành chế biến và xuất khẩu tôm Việt Nam. "Bên cạnh đó, đã đến lúc phải nghĩ tới chuyện xây dựng thương hiệu quốc gia cho tôm. Công việc tương tự đã tiến hành với cá tra và basa", ông. Mở rộng thị trường cũng là một công việc hết sức quan trọng, nhất là trong bối cảnh các nước tăng cường áp dụng các biện pháp tự vệ đối với sản phẩm nhập khẩu. Đa dạng hoá thị trường cũng giúp sản phẩm tôm không quá lệ thuộc vào một thị trường nào đó, giúp giảm thiểu thiệt hại khi thị trường có rủi ro.
Song Linh