Chủ nhật, 18/6/2006, 10:58 GMT+7

16 nghìn tỷ đồng cho đề án đổi mới dạy và học ngoại ngữ

TS. Nguyễn Lộc. Ảnh: Tuổi Trẻ

Phải mất gần 4 năm, Viện Chiến lược và chương trình giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) mới xây dựng xong đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân 2006-2015”. Nhưng ngay khi trình làng, đề án này đã vấp phải không ít ý kiến phản đối.

Một đề án với con số 16.000 tỷ đồng kinh phí, với những đề xuất gây tranh cãi, với những mục tiêu phải... hơn 10 năm nữa mới có thể nhìn thấy kết quả. TS. Nguyễn Lộc, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và chương trình giáo dục, người chịu trách nhiệm xây dựng đề án này, đã có cuộc trao đổi với báo chí.

- Thưa ông, tại sao lại phải xây dựng riêng một đề án về việc dạy và học ngoại ngữ vào thời điểm này?

- Kết quả nghiên cứu suốt mấy năm của chúng tôi đưa ra một số nhận xét chung: trình độ ngoại ngữ của học sinh sinh viên VN nhìn chung còn thấp, hiệu quả sử dụng còn hạn chế, phần lớn sinh viên chưa có khả năng sử dụng ngoại ngữ để tham khảo, nghiên cứu tài liệu nước ngoài hoặc theo học các chương trình đào tạo bằng tiếng nước ngoài. Điều này dẫn đến sự lãng phí về thời gian cũng như nguồn lực của Nhà nước và cá nhân trong quá trình dạy và học ngoại ngữ hiện nay.

- Hiện nay lộ trình đổi mới chương trình sách giáo khoa phổ thông, trong đó có môn ngoại ngữ, còn chưa hoàn tất. Việc phải xây dựng một đề án riêng về đổi mới dạy và học ngoại ngữ liệu có gây ra tình trạng chồng chéo, lãng phí?

- Việc xây dựng đề án này là chủ trương của Quốc hội và Chính phủ, trong xu thế đổi mới chương trình, phương pháp giáo dục. Vấn đề xây dựng đề án được đặt ra vào giai đoạn 2000-2001, lúc bắt đầu triển khai việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Dạy và học ngoại ngữ là lĩnh vực khá phức tạp và khó, đòi hỏi phải nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, vì thế đến nay chúng tôi mới trình được với Bộ Giáo dục và Đào tạo bản đề án này.

- Sau những lần đổi mới trước chưa mang lại kết quả như mong muốn, cơ sở nào khiến ông cho rằng đề án này sẽ cải thiện được tình hình dạy và học ngoại ngữ trong nhà trường?

- Học ngoại ngữ phải có thời lượng nhất định đủ để người học đạt được kỹ năng và kiến thức. Chương trình ngoại ngữ ở phổ thông hiện nay là 700 tiết (chương trình bảy năm), đối với chương trình ba năm, thời lượng còn ít hơn. Thời lượng này quá ít để học sinh đạt được kỹ năng và kiến thức đủ đáp ứng nhu cầu sử dụng.

Vì vậy, trong đề án chúng tôi đề xuất tăng thời lượng, chương trình ngoại ngữ phổ thông sẽ bắt đầu từ lớp 3, trong 10 năm với tổng cộng 1.300 tiết, gần gấp đôi hiện nay. Về chất lượng, sẽ có sự liên tục kế thừa giữa các cấp học.

Để có sự thay đổi trong việc dạy và học ngoại ngữ phải cùng lúc có nhiều giải pháp. Chúng tôi đã đề xuất cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp. Thứ nhất, chương trình đào tạo ngoại ngữ tại các ĐH, dù chuyên và không chuyên ngữ, đều phải có ít nhất là bốn chương trình đáp ứng các trình độ đầu vào khác nhau.

Khác với từ trước đến nay, sinh viên vào trường bất kể trình độ cao thấp, chênh lệch như thế nào đều đồng loạt học theo một chương trình, nếu thực hiện theo đề án đổi mới này, các ĐH, CĐ sẽ áp dụng hệ thống trắc nghiệm riêng để sau khi sinh viên trúng tuyển tiếp tục phân loại và chia lớp học theo các trình độ tương ứng.

Giải pháp thứ hai là về đội ngũ giáo viên: các trường tiểu học và THCS cần được bổ sung đủ đội ngũ giáo viên dạy ngoại ngữ. Chúng tôi ước tính từ nay đến năm học 2008-2009 cần bổ sung ít nhất 16.600 người dạy ngoại ngữ ở bậc tiểu học và 4.800 người dạy ở các THCS. Đến giai đoạn tiếp theo 2010-2011, cần thêm 16.600 giáo viên ngoại ngữ bậc tiểu học và 1.500 bậc THCS.

Đồng thời cần có sự khảo sát, lựa chọn, bồi dưỡng chú trọng nâng cao các kỹ năng ngoại ngữ cũng như các kỹ năng phụ trợ như sử dụng thiết bị đa phương tiện, sử dụng Internet và các phần mềm, chương trình giảng dạy ngoại ngữ hiện đại cho giáo viên. Chúng tôi cũng đề nghị khuyến khích các trường mời hoặc tuyển dụng giáo viên là người VN sống ở nước ngoài hoặc giáo viên bản ngữ.

Song song với việc nâng chất lượng và số lượng giáo viên là yêu cầu phải tăng cường trang thiết bị thiết yếu phục vụ dạy và học ngoại ngữ. Muốn dạy và học có hiệu quả thì không thể nói suông, phải có phương tiện như phòng học đa phương tiện, giáo trình, sách giáo khoa, phần mềm...

- Với thực trạng giáo dục hiện nay, cơ sở nào khiến đề án xác lập mục tiêu: đến năm 2020, phần lớn thanh thiếu niên VN thành thạo ngoại ngữ?

- Mục tiêu nêu trong đề án là “phần lớn thanh thiếu niên VN có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ”. Như vậy, yêu cầu với đa số không đòi hỏi trình độ ngoại ngữ cỡ chuyên gia mà đặt ra mức độ năng lực sử dụng, trong đó đầu tiên là ở môi trường giao tiếp, đến học tập và phục vụ cho làm việc được xếp cuối cùng.

Nhìn chung, mục tiêu cơ bản là khiêm tốn, ví dụ như đối với học sinh tốt nghiệp THPT đạt trình độ bậc 3 tức là có thể sử dụng ngoại ngữ một cách thuần thục để giao tiếp, tiếp tục học tập hoặc làm những công việc thông thường phù hợp với trình độ học vấn như bán hàng mà không cần phải đào tạo thêm...

- Tại sao đề án nhằm “đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân” lại đặt mục tiêu thấp như vậy?

- Đối với một số nơi như TP HCM, Hà Nội... đề án này có vẻ lạc hậu. Nhưng đối với một số địa phương khác, mục tiêu của đề án lại có thể là còn cao quá. Chúng tôi quyết định phải xây dựng đề án theo hướng đứng giữa hai thái cực, vừa sức cho cả nước. Sự thích ứng được giải quyết bằng một lộ trình thực hiện tương đối chậm rãi trong 15 năm nữa, thu hút các địa phương thực hiện theo từng mức độ điều kiện.

Trong giai đoạn trước mắt, chấp nhận có sự khác biệt trong dạy và học ngoại ngữ về chương trình, trình độ, số lượng và ngoại ngữ cụ thể cần dạy đối với các vùng miền, địa phương và cơ sở giáo dục khác nhau. Nhưng vẫn khuyến khích các địa phương, trường học có điều kiện triển khai với nhịp độ nhanh hơn với trình độ cao hơn so với yêu cầu của đề án.

- Khoản kinh phí đầu tư dự kiến là 16.000 tỷ đồng dành cho việc đổi mới dạy và học ngoại ngữ sẽ đóng vai trò như thế nào trong việc thực hiện những mục tiêu của đề án này?

- Tôi xin nói rõ thêm về con số 16.000 tỷ đồng kinh phí được nêu trong đề án không phải là một khoản đầu tư trọn gói cho đề án. Đây là khoản dự toán nhu cầu kinh phí để thực hiện những mục tiêu, giải pháp của đề án từ nay đến năm 2020 và được lồng ghép vào các chương trình, đề án, dự án liên quan đang được thực hiện.

Trong đó có các đề án lớn như “Đổi mới chương trình và sách giáo khoa”, “Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục”... đang được triển khai. Như vậy không phải là Nhà nước sẽ phải chi một khoản 16.000 tỷ đồng để thực hiện riêng đề án này.

Một điểm mấu chốt của đề án khi xác định kinh phí để đổi mới dạy và học ngoại ngữ là nhằm có sự sắp xếp lại những đòi hỏi về đầu tư đối với công việc này. Còn về hiệu quả của đề án, tôi cho rằng trước hết phải có sự tin tưởng. Khó có thể chứng minh ngay bằng sự cân đong đo đếm. Phải đến sau năm 2020 mới có sự thay đổi đại trà.

- Đề án đã gây ra một cuộc tranh luận xung quanh việc lựa chọn “ngoại ngữ chính” với đề xuất gây “sốc”: trong những năm tới chỉ tập trung đầu tư cho tiếng Anh?

- Vấn đề khó nhất đối với chúng tôi trong quá trình xây dựng đề án này là chọn ngoại ngữ nào là chính. Việc đưa ra đề nghị ưu tiên tập trung đầu tư cho một ngoại ngữ là căn cứ trên thực tiễn và những lời khuyên của các chuyên gia quốc tế, cân nhắc các điều kiện cụ thể của VN. Chúng tôi chỉ đặt ra vấn đề: ưu tiên một ngoại ngữ và dành nguồn lực ưu tiên chứ không phải chỉ chọn duy nhất một ngoại ngữ.

Chọn một ngoại ngữ để ưu tiên đầu tư nguồn ngân sách, Nhà nước phải lo được đầy đủ chương trình, sách giáo khoa, giáo viên..., người học phải được cung cấp các điều kiện học tập. Còn những ngoại ngữ khác không cấm cũng không có sự hạn chế.

Ngay trong nhà trường, chúng tôi cũng chỉ đề xuất trong năm 2007, các tỉnh thành xác định một trong các ngoại ngữ gồm tiếng Anh, Nga, Pháp, Trung để ưu tiên dành các nguồn lực cho dạy và học ngoại ngữ đó ở địa phương mình. Việc học ngoại ngữ được chọn là bắt buộc đối với tất cả học sinh phổ thông trên địa bàn.

Đối với các trường ĐH, CĐ, trung cấp, dạy nghề không chuyên ngữ, việc xác định chọn một ngoại ngữ nào trong 4 thứ tiếng kể trên để ưu tiên dành nguồn lực cũng do nhà trường quyết định. Bảng đánh giá năng lực ngoại ngữ cũng được xây dựng theo quan điểm có thể áp dụng cho tất cả các ngoại ngữ được giảng dạy ở VN.

Chương trình dạy và học ngoại ngữ

- Khác từ chương trình, cách tuyển chọn, phân loại trình độ người học đến đánh giá trình độ. Từ trước đến giờ, VN chỉ có thang bậc đánh giá là trình độ A, B, C đối với học không chính quy. Trong giáo dục - đào tạo chính quy lại chưa có.

Theo đề án, trình độ ngoại ngữ của người học được đánh giá theo một bảng năng lực ngoại ngữ thống nhất gồm sáu bậc trình độ, tương ứng với từng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Bảng đánh giá này được xây dựng trên cơ sở tham khảo Hiệp hội Các nhà khảo thí ngoại ngữ châu Âu. Đối với tiếng Trung, những người xây dựng đề án tham khảo thang bậc đánh giá của Trung Quốc, họ cũng sắp xếp theo sáu thang bậc rõ ràng.

Với bộ đánh giá này, VN có thể bỏ chứng chỉ A, B, C. Dạy và học ngoại ngữ chính quy và phi chính quy dùng chung được một hệ thống đánh giá, thuận lợi cho người học.

Chương trình học cũng được thiết kế lại thống nhất: đối với bậc học phổ thông, dạy và học ngoại ngữ sẽ theo “chương trình 10 năm” bắt đầu từ lớp 3 cho đến hết lớp 12, có thời lượng 1.295 tiết được phân bổ cho các cấp như sau: tiểu học gồm lớp 3, 4, 5 học 4 tiết/tuần, tổng cộng toàn cấp là 420 tiết. THCS gồm các lớp 6, 7, 8, 9 với 4 tiết/tuần, tổng cộng toàn cấp là 560 tiết. THPT gồm lớp 10, 11 và 12 với 3 tiết/tuần, toàn cấp là 315 tiết.

Sau khi tốt nghiệp tiểu học, học sinh sẽ đạt trình độ ngoại ngữ bậc 1, tốt nghiệp THCS đạt bậc 2 và tốt nghiệp THPT đạt bậc 3 của bảng năng lực ngoại ngữ. Đối với các ĐH, CĐ không chuyên ngoại ngữ, sẽ tiến hành dạy và học theo nhiều chương trình khác nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu đầu vào khác nhau.

Sinh viên tốt nghiệp CĐ không chuyên ngữ đạt trình độ bậc 3,5, sinh viên tốt nghiệp CĐ không chuyên ngữ những ngành có yêu cầu cao về ngoại ngữ đạt trình độ bậc 4. Sinh viên tốt nghiệp ĐH không chuyên đạt gần bậc 4, những ngành có yêu cầu cao đạt trên bậc 4. Tốt nghiệp các ĐH chuyên ngữ đạt trình độ bậc 5.

(Theo Tuổi Trẻ)

Link Site
 
Tìm việc nhanh
Ngành:
Địa điểm:
CareerLink
 
 
Ngày 9/11, một tuần sau khi bão lũ tàn phá, nhiều vùng dân cư ở Phú Yên vẫn chưa rút hết nước, điện cũng không. Người dân bắt đầu dựng lại nhà từ cái nền còn trơ gạch, trẻ con phơi sách vở chuẩn bị đến trường... Ảnh: Trí Nguyễn..
SỰ KIỆN BẠN ĐỌC QUAN TÂM
Nam Trung Bộ bị nhấn chìm vì lũ lịch sử Kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa 12
Tranh cãi về tận thu phí xe qua cầu Thăng Long 174 người chết vì bão Ketsana
Hổ cắn chết người Điện cột đèn đường giật chết người
Tai nạn nghiêm trọng tại Keangnam Rò rỉ ở hầm Kim Liên
 
Bạn đọc viết
 
Lien he quang cao