Thứ tư, 27/4/2005, 01:02 GMT+7

Dệt may khốn khó trước ngưỡng cửa hội nhập

4 tháng xuất khẩu được 1,32 tỷ USD, chỉ tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái và quá thấp so với mục tiêu 5,2 tỷ USD cả năm nay. Trong lúc các nhà quản lý và doanh nghiệp còn mải lo bàn chuyện phân bổ và thực hiện quota, hàng trăm khó khăn khác lớn hơn rất nhiều đang đổ ập lên ngành xuất khẩu mũi nhọn này.

Sản xuất hàng dệt may xuất khẩu tại Công ty May 10. Ảnh: Anh Tuấn

Các cuộc họp tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn cho ngành dệt may do liên bộ và hiệp hội tổ chức trong tháng 2 và 3 vừa qua, khi mà tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đang thấp ở mức báo động, chủ yếu tập trung vào việc chia lượng hạn ngạch hay cải tiến thủ tục hành chính, cấp visa, giấy phép sao cho hợp lý, hiệu quả. Thực tế thì nhiều doanh nghiệp cho rằng thủ tục và phương thức phân bổ quota, cấp giấy phép là một trong những yếu tố gây khó khăn cho họ khi tìm kiếm đối tác, ký kết và thực hiện hợp đồng. Việc đột ngột cắt bớt chỉ tiêu hạn ngạch thưởng khiến một số doanh nghiệp từng đổ công sức đi làm hàng phi quota, hàng sử dụng nguyên phụ liệu trong nước thất vọng. Sự chậm trễ ban hành quy chế chuyển nhượng hạn ngạch cũng như quá trình đưa nó vào thực thi khiến những xưởng may đang đói quota phải dở khóc dở cười khi đối tác nước ngoài quay mặt ra đi.

Tuy nhiên, có một thực tế tưởng như phi lý đó là chế độ hạn ngạch càng nới lỏng bao nhiêu, ngành dệt may Việt Nam càng khó khăn bấy nhiêu. Một nghiên cứu của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (công bố tại Hội nghị Thách thức và giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may sau 2004, tổ chức tháng 12/2003) cho thấy rõ điều này. Vào những năm 1996-1997, khi Canada còn áp dụng hạn ngạch với sơmi nam, Việt Nam xuất được vào thị trường này 1,7 triệu chiếc. Từ đầu 1998, Canada bỏ hạn ngạch với mặt hàng này, sau 3 năm Việt Nam mất thị trường. Từ 1/1/2002, EU bãi bỏ hạn ngạch một số mặt hàng trong đó có jacket (mặt hàng có ưu thế nhất của Việt Nam) cho các nước thành viên WTO, trong khi Trung Quốc tăng gấp 2 lần sau 1 năm thì Việt Nam giảm xuống còn 71% và tiếp tục giảm.

Kể từ đầu năm nay, chế độ hạn ngạch được bãi bỏ hoàn toàn với các thành viên WTO. Việt Nam cũng được hưởng ưu đãi này khi xuất hàng sang EU, tuy nhiên kim ngạch xuất khẩu dệt may vào thị trường này không những không tăng mà còn giảm (quý I giảm tới 3%; trong đó vào Đức giảm 24,3%, Anh giảm 26% và Pháp giảm 20%).

"Dĩ nhiên, đã bị áp hạn ngạch là khó khăn bởi số lượng được cấp bao giờ cũng thấp hơn so với năng lực sản xuất của các doanh nghiệp dệt may. Nhưng, khó khăn về hạn ngạch chỉ nhất thời. Vấn đề chính của ngành dệt may Việt Nam, theo cá nhân tôi, nằm ở khâu giá thành và thời hạn giao hàng", Trưởng phòng Kế hoạch Công ty cổ phần May 10 Hoàng Minh Khang thừa nhận.

Lao động chịu khó và khéo tay, chi phí nhân công không quá cao. Nhưng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị của ngành dệt còn lạc hậu, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của ngành may. Khâu sản xuất nguyên phụ liệu trong nước còn yếu nên ngành dệt may vẫn lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu (bông nhập khẩu chiếm 90%, vải nhập khẩu khoảng 70%). Những yếu tố này khiến giá thành sản phẩm dệt may của Việt Nam bị đội lên cao so với một số đối thủ cạnh tranh.

Cũng vì bị động trong khâu nguyên phụ liệu nên doanh nghiệp không thể đáp ứng nhanh yêu cầu của khách hàng trong tình hình cạnh tranh quyết liệt giữa các nhà cung cấp. Theo ông Hoàng Minh Khang, các đối tác ngày càng đưa ra yêu cầu gấp gáp hơn về thời hạn giao hàng. Nếu như trước đây, thời gian tính từ khi ký kết hợp đồng sản xuất xuất khẩu (FOB) đến lúc giao hàng có thể lên tới 4-6 tháng, sau giảm còn trên 3 tháng, thì nay chỉ còn 2 tháng rưỡi đến 3 tháng là cùng, vì vậy, các doanh nghiệp Việt Nam càng rơi vào thế bị động hơn.

Sự kém cạnh tranh về giá thành, thời hạn giao hàng cùng hàng loạt lý do khác như bất cập trong khả năng buôn bán quốc tế, tiếp cận thị trường, trình độ chuyên môn, thiết kế mẫu mã, trang thiết bị, máy móc đang khiến ngành dệt may Việt Nam trở nên quá bé nhỏ trên đấu trường quốc tế, đặc biệt khi so với "người khổng lồ" Trung Quốc. "Tất cả Cat “nóng” xuất vào EU từ Trung Quốc tăng rất mạnh, trong khi tại Việt Nam các Cat này đang có xu hướng nguội dần. Mặc dù đã lường trước về tốc độ tăng nhanh của hàng dệt may Trung Quốc sau khi hạn ngạch được dỡ bỏ nhưng thật sự chúng tôi vẫn bị sốc vì mức tăng quá nóng này", ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam trao đổi với báo chí.

Mức tăng trưởng 6% của dệt may xuất khẩu 4 tháng đầu năm chỉ gần bằng 1/3 tốc độ của cả năm ngoái và quá thấp so với mục tiêu 18-20% năm nay. Nếu cứ với đà này, mục tiêu xuất khẩu 5,1-5,2 tỷ USD dệt may trong cả năm nay khó thành hiện thực. 

Trong khó khăn chung đó, tình cảnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trở nên bi quan hơn cả. Với các đơn vị lớn, có tiềm lực mạnh, có năng lực quản lý và tổ chức sản xuất tốt, họ vẫn nhận đơn hàng đều đặn. 3 tháng đầu năm, Công ty cổ phần May 10 vẫn xuất khẩu 2,4 triệu sản phẩm các loại, đạt trị giá 18 triệu USD, tăng 3% về sản lượng và 10% về kim ngạch. Với các đơn hàng đang có trong tay, May 10 vẫn có thể yên tâm sản xuất tới tháng 6-7.

Trong khi đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại lâm vào cảnh vô cùng quẫn bách vì không có đơn đặt hàng. Trao đổi với VnExpress, nhiều doanh nghiệp dệt may vừa và nhỏ cho biết các doanh nghiệp lớn chỉ đủ đơn hàng để tự thực hiện, mà không cần đến sự gia công lại của họ như trước đây.

Để tìm ra lối thoát, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang chuyển sang sản xuất hàng bán thành phẩm (FOB), nhưng làm được việc này không dễ. Theo Giám đốc Công ty TNHH may xuất khẩu Bình Hoà, ông Phùng Đình Ngọ, làm hàng FOB phải có thị trường và khách hàng. Muốn vậy, phải đầu tư nhiều tiền và thời gian để đầu tư cho công tác tiếp thị, đặc biệt là tiếp thị ở nước ngoài. Nhưng theo ông Ngọ, ngay cả vốn để mua nguyên phụ liệu, thuê thiết kế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn khó xoay ra nữa là nói tới chi phí xúc tiến thương mại. "Ngân hàng cũng không dễ dàng cho vay số vốn mà mình đang cần. Bởi tài sản tín chấp của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường khống đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng. Nhà xưởng cũng phải đi thuê thì lấy đâu ra tài sản để thế chấp", ông Ngọ nói.

Với hơn 1.200 công nhân, công ty may Hoàn Cầu thuộc loại có quy mô khá trong ngành may trên địa bàn TP HCM. Thế nhưng khi đề cập đến việc làm đơn hàng bán thành phẩm, ông Võ Văn Ngân, Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty cũng lắc đầu kêu khó. Ông Ngân cho rằng, từ trước đến nay các doanh nghiệp dệt may vừa và nhỏ đã quen với việc làm gia công cho những đơn vị lớn nên không thể chủ động được trong việc tìm kiếm bạn hàng. Nguồn vốn thiếu đã đành, nguyên phụ liệu nội địa lại rất khó tìm và giá thành còn cao hơn nguyên phụ liệu ngoại khoảng 20%. 

Chủ tịch Hiệp dội Dệt may và Thêu đan TP HCM (Atgek) Nguyễn Đức Hoan lo âu: "Lâu nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn làm gia công là chính. Khi thị trường chuyển đổi theo xu thế hội nhập, họ trở tay không kịp, do thời gian dài chưa chủ động tìm kiếm khách hàng. Vì thế, việc chuyển qua làm hàng FOB là một vấn đề nan giải đối với họ". Trong khi đó, hầu hết các doanh nghiệp dệt may Việt Nam chủ yếu là những đơn vị vừa và nhỏ. Điển hình, tại TP HCM trong số 282 doanh nghiệp may mặc thì chỉ có 40 đơn vị có quy mô 200 máy may trở lên, phần còn lại đều là quy mô nhỏ.

Nguyễn Thùy - Song Linh

Link Site
    • HOSE

    • HNX

    •  
    • Mã CK

    •  
    • TC

    •  
      • Khớp lệnh
      •  
      • Giá
      •  
      • KL
    •  
    • +/-

    •  
    •  
    •  
    •  
    • (Bấm vào nội dung bảng để xem chi tiết)

    •  
  •  
    • HOSE

    • HNX

    •  
      •  
        •  
        •  
        •  
        •  
        •  
      •  
        •  
        •  
        •  
        •  
        •  
    •  
    •  | 

  •  
        •  
        • Mã CKGiá KL Khối lượngThay đổi
          STB 25.4 3,985,390 +1.2 (+4.96%)
          SSI 78.0 1,773,450 +3.5 (+4.70%)
          VFMVF1 15.7 1,224,440 +0.7 (+4.67%)
          EIB 23.3 960,250 +1.1 (+4.95%)
          GMD 76.5 899,350 +3.5 (+4.79%)
        •  
        •  
        • Mã CKGiá KLKhối lượngThay đổi
          KLS 26.9 3,797,300 +1.5 (+5.91%)
          VCG 50.2 1,676,900 +1.9 (+3.93%)
          ACB 36.8 1,421,000 +2.4 (+6.98%)
          SHB 25.2 1,403,500 +1.6 (+6.78%)
          KBC 62.4 1,122,600 +2.1 (+3.48%)
        •  
    •  
    •  
  •  
Video phục kích ở cây xăng "gian"
Những thời khắc khó khăn của Kinh tế thế giới
 
 
 
 
Tìm việc nhanh
Ngành:
Địa điểm:
CareerLink
Lien he quang cao