Thứ hai, 28/2/2005, 10:36 GMT+7

'Còn bảo hộ, còn chậm đổi mới công nghệ'

Thạc sĩ Vũ Xuân Nguyệt Hồng

Đó là ý kiến của bà Vũ Xuân Nguyệt Hồng, Trưởng Ban khoa học quản lý Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM). Kết quả cuộc khảo sát do CIEM tiến hành mới đây cho thấy, trình độ công nghệ và mức độ làm chủ công nghệ của các doanh nghiệp VN chậm so với khu vực.

- Theo kết quả khảo sát, mức đầu tư dành cho đổi mới thiết bị chỉ tương đương bình quân 3% doanh thu cho cả năm. Bà nhận xét thế nào về con số này?

- Trong những năm qua, nhiều doanh nghiệp đã chú ý hơn tới đầu tư cho đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, điều đáng nói qua kết quả điều tra, đầu tư của các doanh nghiệp cho đổi mới công nghệ tập trung chủ yếu để mua sắm, cải tiến máy móc thiết bị phần cứng (thông qua nhập khẩu thiết bị hoặc mua thiết bị trong nước) hơn là đầu tư cho phần mềm công nghệ (như đầu tư cho nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất hay sản phẩm hiện có hoặc thiết kế các sản phẩm mới). Thông thường, đầu tư cho công nghệ phần cứng tốn kém hơn nhiều so với đầu tư cho phần mềm công nghệ và do vậy sẽ làm đội giá thành sản phẩm làm ra do giá trị khấu hao lớn.

Doanh nghiệp của các nước xung quanh như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan hiện đã nhận thức được điều này và họ đang chú ý nhiều hơn vào đầu tư cho hoạt động nghiên cứu triển khai. Nếu các doanh nghiệp VN không sớm nhận thức được điều này và có chiến lược lâu dài đầu tư cho phần mềm công nghệ thì rồi đây các sản phẩm của chúng ta sẽ khó thâm nhập thị trường quốc tế khi VN hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

- Kết quả khảo sát của Viện cho thấy, có đến 39% các doanh nghiệp được hỏi hiện đang sử dụng những thiết bị, máy móc thuộc thế hệ những năm 1980. Theo bà, vì sao?

- Làn sóng đầu tư của nước ngoài (FDI) vào VN trong hơn một thập kỷ qua chưa tạo ra một sự chuyển biến mạnh về chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp nước ngoài cho doanh nghiệp trong nước. Nói một cách khác, công nghệ được đưa vào VN qua đường FDI vẫn chỉ quẩn quanh ở các doanh nghiệp có vốn nước ngoài.

Điều này có thể lý giải bởi nhiều lý do. Trước hết, hệ thống pháp luật và việc thực thi pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của VN đang còn nhiều bất cập như: hệ thống luật pháp còn nhiều điểm chưa phù hợp và đầy đủ so với các tiêu chuẩn và quy định của luật pháp quốc tế; các quy định về sở hữu trí tuệ nằm rải rác tại các văn bản dưới luật gây cảm giác dễ thay đổi, đặc biệt việc thực thi luật pháp về quyền sở hữu trí tuệ chưa nghiêm và tính hiệu lực còn thấp. Điều này chưa khuyến khích các doanh nghiệp FDI chuyển giao công nghệ. Đến nay, VN đã thu hút khoảng 6.000 dự án FDI vào VN nhưng mới chỉ có khoảng 200 hợp đồng chuyển giao công nghệ từ khu vực này là quá thấp.

Thứ hai, các doanh nghiệp tư nhân quy mô còn nhỏ bé, thiếu năng lực về tài chính để thanh toán các hợp đồng chuyển giao công nghệ, trong khi đó doanh nghiệp nhà nước thường muốn nhập khẩu thiết bị từ nước ngoài hơn vì còn có những lợi ích khác.

Thứ ba, mối liên kết và hợp tác trong sản xuất kinh doanh giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài còn yếu. Kết quả điều tra vừa qua cho thấy 56% doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ qua con đường nhập khẩu công nghệ từ nước ngoài; chỉ có 23% thông qua liên kết với các doanh nghiệp FDI mà thôi.

Nhiều ý kiến cho rằng một trong những lý do chính khiến các doanh nghiệp chưa nhanh chóng đổi mới công nghệ không chỉ là vấn đề thiếu vốn, thiếu thông tin về thị trường mà do nền kinh tế của VN chưa bước vào hội nhập toàn diện, đồng thời vẫn chưa thật sự chú trọng đến bản quyền sở hữu trí tuệ?

- Động lực hàng đầu và mạnh nhất để buộc các doanh nghiệp VN đổi mới công nghệ là áp lực cạnh tranh do kết quả của việc mở cửa thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế thời gian qua. Kết quả điều tra của chúng tôi cho thấy tới 90% các doanh nghiệp được hỏi đánh giá áp lực cạnh tranh là động lực lớn nhất để doanh nghiệp quyết định đầu tư đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng suất và hạ giá thành sản phẩm để có thể tồn tại và mở rộng thị trường trong nước, quốc tế. Điều đó có nghĩa là một khi doanh nghiệp còn được bảo hộ, được hưởng vị thế độc quyền và chưa phải đối mặt với cạnh tranh thì họ sẽ còn chần chừ trong đầu tư đổi mới công nghệ. Thiếu vốn, thiếu thông tin về công nghệ và những hạn chế trong pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ chỉ là những cản trở tiếp theo.

- Chính phủ cần phải có những chính sách tháo gỡ nào để đẩy nhanh tiến trình đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp?

- Thực tế, Chính phủ vừa qua cũng đã ban hành khá nhiều chính sách nhằm thúc đẩy đổi mới công nghệ của doanh nghiệp như: các chính sách về hỗ trợ tài chính cho đầu tư đổi mới công nghệ; chính sách thúc đẩy hoạt động nghiên cứu triển khai; chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng đối với hoạt động đầu tư đổi mới công nghệ... Tuy nhiên, kết quả điều tra vừa qua cho thấy tác động của những chính sách nói trên tới đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp là không đáng kể.

Những nguyên nhân dẫn đến thực tế này là doanh nghiệp thiếu thông tin về các chính sách, ưu đãi của Nhà nước; thủ tục xét duyệt để được hưởng các ưu đãi còn phức tạp, rườm rà, chậm đi vào thực tế; các chính sách hiện hành chưa thật sự hấp dẫn doanh nghiệp, hiệu lực thi hành của văn bản chính sách ưu đãi chưa cao.

Theo tôi, Chính phủ cần đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế vĩ mô, hội nhập kinh tế quốc tế, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo hướng tạo môi trường pháp lý kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh để tạo áp lực đổi mới công nghệ đối với doanh nghiệp. Thúc đẩy mạnh mẽ quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước; tiếp tục cải thiện chính sách thu hút đầu tư FDI vào VN, thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI, coi đây vừa là nguồn cung quan trọng cho đổi mới công nghệ, vừa là yếu tố tạo áp lực buộc doanh nghiệp trong nước phải quan tâm tới đổi mới công nghệ; có chính sách tăng cường liên kết ngang giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.

Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ tài chính cho đổi mới công nghệ hiện hành của Nhà nước phải chuyển từ tài trợ trực tiếp theo cơ chế xin - cho sang cơ chế hỗ trợ gián tiếp, chủ yếu nên tập trung tạo điều kiện kỹ thuật hạ tầng, tạo khung pháp lý để hình thành thêm nhiều kênh cung ứng nguồn tài chính cho đổi mới công nghệ (chẳng hạn như quĩ đầu tư mạo hiểm). Phát triển thị trường khoa học và công nghệ theo hướng khuyến khích quá trình thương mại hóa sản phẩm công nghệ, chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển mạnh hệ thống các tổ chức dịch vụ công nghệ, thông tin môi giới công nghệ, các trung tâm giao dịch và thực hiện các dịch vụ chuyển giao công nghệ.

(Theo Tuổi Trẻ)

Link Site
    • HOSE

    • HNX

    •  
    • Mã CK

    •  
    • TC

    •  
      • Khớp lệnh
      •  
      • Giá
      •  
      • KL
    •  
    • +/-

    •  
    •  
    •  
    •  
    • (Bấm vào nội dung bảng để xem chi tiết)

    •  
  •  
    • HOSE

    • HNX

    •  
      •  
        •  
        •  
        •  
        •  
        •  
      •  
        •  
        •  
        •  
        •  
        •  
    •  
    •  | 

  •  
        •  
        • Mã CKGiá KL Khối lượngThay đổi
          EIB 27.0 3,057,730 -0.3 (-1.10%)
          STB 29.0 2,666,610 -0.5 (-1.69%)
          SSI 88.5 2,546,170 -1.0 (-1.12%)
          REE 50.0 2,076,120 -0.5 (-0.99%)
          TCM 21.8 1,739,940 -1.1 (-4.80%)
        •  
        •  
        • Mã CKGiá KLKhối lượngThay đổi
          VCG 60.2 3,789,500 +3.1 (+5.43%)
          KLS 32.6 2,548,800 0 (0.00%)
          KBC 74.6 2,347,600 +1.9 (+2.61%)
          SHB 28.4 2,029,400 +0.4 (+1.43%)
          ACB 42.8 1,450,900 -0.4 (-0.93%)
        •  
    •  
    •  
  •  
Video phục kích ở cây xăng "gian"
Những thời khắc khó khăn của Kinh tế thế giới
 
 
 
 
Tìm việc nhanh
Ngành:
Địa điểm:
CareerLink
Lien he quang cao