Làm gì khi rửa rau không loại hết thuốc bảo vệ thực vật
Viện Bảo vệ Thực vật cảnh báo các biện pháp làm sạch rau quả lâu nay vẫn được tin dùng hóa ra không thể loại trừ hẳn dư lượng thuốc bảo vệ thực vật.
"Rửa, ngâm và thậm chí sục khí ozone chỉ là giải pháp tình thế", TS Nguyễn Thị Nhung ở Viện Bảo vệ thực vật nói, "Giải pháp chính là sử dụng tổng hợp các biện pháp giảm thiểu dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) mà một vài nơi ở ngoại thành Hà Nội đang áp dụng rất thành công nhưng chưa nhân rộng được".
Rửa cũng gần như không
Trong tình trạng 20-30% mẫu rau kiểm tra có dư lượng thuốc BVTV vượt quá mức cho phép, đi đâu cũng thấy các bà nội trợ đầy cảnh giác áp dụng những ngâm, rửa và thậm chí sục khí ozone. Đáng tiếc, kết quả điều tra mới đây của Viện BVTV cho thấy các biện pháp ấy không mấy hiệu quả.
Với ngâm và rửa, các nhà khoa học thử nghiệm với rau ăn sống trong đó có dưa chuột sau khi được phun thuốc BVTV 3 ngày. Sau khi ngâm 20 phút và rửa nhiều lần bằng nước sạch, mẫu được phân tích cho thấy dư lượng của thuốc BVTV Iprodinoe (thuộc nhóm thuốc tiếp xúc) chỉ giảm 37% so với nhóm rau sống không ngâm và rửa. Với các thuốc Methomyl và Dimetoate (nhóm thuốc lưu dẫn) sau khi ngâm nước muối 1% và rửa bằng nước sạch, hiệu quả giảm dư lượng là 23-20% so với nhóm rau đối chứng không được ngâm rửa.
Về biện pháp ngâm và sục khí ozone, tác dụng rõ rệt thấy ở thuốc Cypermethrin (thuốc tiếp xúc) nhưng cũng chỉ giảm 65,7% so với mẫu rau không được xử lý. Đối với Methamidofos (thuốc lưu dẫn), hiệu quả tồi hơn nhiều. "Ngâm và sục khí ozone cho hiệu quả giảm dư lượng thuốc này không có ý nghĩa", TS Nguyễn Thị Nhung nói.
Như vậy, hai biện pháp ngâm rửa và ngâm sục khí ozone chỉ có tác dụng nhất định với việc giảm dư lượng thuốc BVTV trong rau quả song tác dụng vốn đã thấp ấy càng thấp hơn đối với một số thuốc lưu dẫn như nêu trên. Điều tra việc tuân thủ thời gian cách ly cần thiết các loại thuốc BVTV ở ngoại thành Hà Nội, các nhà khoa học thấy nông dân các cơ sở trồng rau chỉ bảo đảm thời gian cách ly 5 ngày, tức 5 ngày sau khi phun thuốc BVTV thì cho thu hoạch. Với thực trạng phổ biến như thế, "có tới 40% khả năng dư lượng thuốc BVTV vượt mức cho phép", TS Nhung nhận định. Nguy cơ độc chất đi vào cơ thể người ăn vì thế càng cao một khi kỹ thuật rửa rau còn nhiều bất cập.
TS Nhung cho biết, để giảm thiểu sử dụng thuốc BVTV, phương châm chung là canh tác hợp lý nhằm giảm khả năng bùng phát dịch hại. Viện đã áp dụng thử mô hình sản xuất rau an toàn trong hai năm 2002-2003 tại HTX sản xuất rau an toàn Ngọc Phán với vẻn vẹn 2 ha và trên 15 loại rau.
Kết quả khiến ai nấy nức lòng. Số lần phun thuốc giảm 44%. Số thuốc dùng, tính theo đơn vị diện tích, giảm 59%, trong khi năng suất rau không giảm. Thú vị nhất là dư lượng thuốc BVTV trên rau giảm hẳn, thấp hơn tiêu chuẩn cho phép. Sản phẩm rau an toàn này hiện đang bán chạy như tôm tươi với 1 tấn rau/ngày ở ba điểm bán hàng trong nội thành Hà Nội. Nông dân phấn khởi khi thu nhập của họ tăng 20 - 30% so với cách canh tác thông thường vốn để nhiều thuốc BVTV tồn dư trên rau .
Để đa dạng hóa công nghệ, các nhà khoa học của Viện còn cho áp dụng kỹ thuật cao đối với rau ăn lá ngắn ngày. Đó là phương pháp khay - bầu (plug system) của Đài Loan. Công nghệ này làm tăng không chỉ năng suất, tăng mùa vụ, hạn chế sâu bệnh, cỏ dại, mà còn có thể áp dụng quy mô công nghiệp. Đặc biệt, chất lượng rau cũng cao hơn do sinh trưởng trong điều kiện dinh dưỡng cân đối, ít sâu bệnh hại.
Tuy nhiên, những kỹ thuật canh tác tiên tiến trên chưa được phổ biến rộng rãi. Ngay tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, hầu như rất khó kiếm các sản phẩm rau an toàn có chứng chỉ chất lượng, không kiếm đâu ra các biện pháp nhanh và đơn giản kiểm tra dư lượng các chất độc hại trên rau quả. Tất cả vẫn phó mặc cho các biện pháp kinh điển "nhìn, sờ, nếm, ngửi" mà không phải lúc nào cán bộ thực thi công vụ cũng sẵn sàng triển khai.
Ở Việt Nam, hiếm có công nghệ nào được nhiều đơn vị lao vào nghiên cứu và được nhiều dự án tài trợ như công nghệ sản xuất rau an toàn. Đáng tiếc là nghiên cứu cứ nghiên cứu, dự án cứ dự án. Mọi thứ xong gần như để đấy sau khi áp dụng trên một vài diện tích nhất định để trình diễn. Hầu như chưa có kế hoạch quốc gia nào, chương trình tổng thể nào chọn ra một vài công nghệ để đầu tư, nhân rộng và quy chuẩn hóa để bắt buộc áp dụng trên quy mô lớn.
Để có sản phẩm rau ít thuốc BVTV nhất, các nhà khoa học ở Viện BVTV khuyến cáo:
- Xử lý cây con, hạt giống trước khi trồng nhằm hạn chế một số bệnh và rệp hại đầu vụ.
- Tăng cường sử dụng các giống chống chịu một số bệnh hại nguy hiểm như giống cà chua lai F1. Summer 900 có tác dụng hạn chế héo xanh vi khuẩn, giống N Cross ít gây bệnh thối nhũn, v.v.
- Sử dụng các biện pháp phi hóa học để dự báo hoặc hạn chế dịch hại như Pheromone, bẫy dính vàng, bắt bằng tay (sâu non và ổ trứng sâu khoang,v.v.).
- Chỉ sử dụng thuốc khi sâu hại đạt đến mức cần thiến phải phun các cây rau chính như cải bắp, cải xanh, dưa chuột, đậu trạch, cà chua.
- Tăng cường sử dụng các thuốc sinh học, thảo mộc, thuốc có nguồn gốc tự nhiên như Spinosad, Evermectin, Azadirachtin.
- Luân chuyển các thuốc có cơ chế tác động khác nhau. Chẳng hạn với thuốc trừ sâu tơ, có thể luân chuyển các nhóm thuốc sau đây với nhau: Spinosad- Abamectin, Fipronil, BT, Diafenthiuron, Idoxacarb, và Lufenuron.
- Tuân thủ thời gian cách ly theo kết quả đã nghiên cứu trong điều kiện Việt Nam.
- Sử dụng thuốc đúng nồng độ và liều lượng đối với từng loại dịch hại trên mỗi cầy trồng sao cho không vượt quá 20% liều lượng trung bình.
- Cuối cùng, sử dụng một số biện pháp xử lý trước khi chế biến như rửa, ngâm, sục khí ozone để hạn chế phần nào tác hại với rau chưa có độ tin cậy cao về dư lượng thuốc BVTV cũng như vi sinh vật gây bệnh.
(Theo Tiền Phong)