Người phụ nữ Việt trong căn chợ Nga
Trong căn quán nhỏ ấm áp, đúng hơn là một cái container được dựng tạm và sửa sang thành cái quán nhỏ xíu lọt thỏm trong khu chợ Việt Nam, chủ quán là một người phụ nữ gầy gò xanh xao đang đếm lại số card dùng để gọi điện thoại ra nước ngoài mới nhận khi chiều...
“Mùa thu lá rụng khắp vườn nghèo,
Nhuộm vàng cả gió cuốn bay theo...”
(Bài ca mùa thu - A.K. Tolstoi)
Tia nắng cuối ngày đã tắt tự bao giờ. Màn đêm buông nhanh, ông mặt trời uể oải lười biếng vội vàng thu nốt những đốm sáng yếu ớt của một ngày tàn vào khoảng thinh không vắng lặng. Vài tiếng chim xao xác gọi bầy thi thoảng vang lên khiến cho khoảnh khắc giao mùa càng nhuốm màu buồn man mác. Cái lạnh cuối thu se sắt đến tái tê báo hiệu một mùa đông băng giá đang rất cận kề. Gió thổi mạnh, hất tung đám lá vàng cuối mùa lì lợm còn quyến luyến cành cây khô. Gió rít qua khe cửa, mang theo vài hạt mưa còn sót lại của cơn mưa giông ban chiều, hơi mưa lạnh buốt…
Trong căn quán nhỏ ấm áp, đúng hơn là một cái container được dựng tạm và sửa sang thành cái quán nhỏ xíu lọt thỏm trong khu chợ Việt Nam, chủ quán là một người phụ nữ gầy gò xanh xao đang đếm lại số card dùng để gọi điện thoại ra nước ngoài mới nhận khi chiều, miệng lẩm bẩm: “Dạo này người ta vào mạng Internet chat và gọi phone, card điện thoại này mấy ai dùng đến nữa nhỉ? Thỉnh thoảng mới có người hỏi, thôi thì vẫn cứ nhập về, chứ không trông mong lời lãi như những năm về trước….”.
Chị thở dài, đảo đôi mắt mệt mỏi thâm quầng do thiếu ngủ ngắm “cơ ngơi” của mình. Gian hàng nhỏ xíu rộng khoảng chín mét vuông này chật vật mãi mới thuê lại được của một người khác sau khi mất chỗ làm ăn, cũng là một hàng cơm phở do Trung tâm thương mại lớn tại Moscow đóng cửa theo chính sách cấm người nước ngoài trực tiếp kinh doanh trên lãnh thổ Nga. Trung tâm thương mại ngày ấy nay chỉ cho phép kinh doanh hàng khô là những mặt hàng thực phẩm chủ yếu được đưa sang từ trong nước hoặc từ Trung Quốc.
Theo lệ thường, nơi đâu có chợ tức là phải có hàng quán. Đây là quán ăn duy nhất được cấp phép kinh doanh của khu chợ nên phải khó khăn và chạy vạy khắp chốn, chị mới “tranh” được nó. Bếp nấu ăn và sơ chế thực phẩm được ngăn với không gian dành cho khách bằng một cái quầy gỗ sơ sài. Một cái bàn gỗ dài với hơn chục cái ghế nhựa xung quanh, trên bàn là những lọ gia vị tương ớt, thìa đũa được sắp xếp một các khéo léo khiến chiếc bàn trông rộng rãi và đẹp mắt. Phía sau quầy là một thế giới khác. Tất cả những thức uống phục vụ cho ẩm thực từ rượu, bia, nước ngọt, những hộp chè đen to tướng được kê gọn vào một góc, chè mạn Thái Nguyên là món không thể thiếu của quán hàng Việt Nam trên xứ sở băng giá này. Mùi cà phê thoang thoảng của những gói cà phê pha phin Trung Nguyên… Tích tắc tích tắc... Tiếng gõ đều đặn phát ra từ chiếc đồng hồ treo tường cũ kỹ cho chị cảm giác bình an, một khoảnh khắc thong dong hiếm hoi mà từ khi bước chân cầu thực tha phương, đã từ lâu chị không còn cảm nhận được…
Chợt giật mình… Có tiếng nước reo từ hai nồi nước dùng to tướng đang sôi trên bếp. Mùi nước phở thơm lừng thanh thoát tỏa ra ngoài khiến cho người qua đường đôi khi phải dừng lại hít hà khoan khoái… Nhanh tay xếp gọn các thứ trên quầy, chị lao vào bếp, thoăn thoắt mổ gà, những con gà quê nuôi thả (không phải gà công nghiệp) được làm sạch và luộc rất khéo cho màu da vàng ươm, thịt dai có vị gừng trông thật ngon lành, bắt mắt. Một dãy những gói gia vị được thêm bớt bởi bàn tay chủ nhân để cho ra những đĩa thịt ướp ngon lành. Song chị quay sang quạt chả, rán nem trên cái bếp than đặt trong góc bếp, mùi than cháy, mùi chả nướng quyến rủ… Ánh lửa nhảy nhót lung linh như thách thức cái lạnh cắt da bên ngoài…
Tất cả thức ăn đều phải được sơ chế sẵn trong buổi chiều muộn này bởi đôi bàn tay tái xanh run rẩy trong làn nước lạnh. Năm giờ sáng, trong ánh đèn mờ mịt hắt bóng xuống vệ đường lấp loáng nước từ trận mưa âm thầm đêm qua, đủ để soi vài bóng ô tô rời rạc lao vút, cô chủ quán nhỏ bé với những bước đi xiêu vẹo, co ro vì lạnh kia đã có mặt ở quán và chuẩn bị dọn hàng. Sáu giờ sáng, chợ lác đác nhóm (chủ yếu là các công xưởng người Việt Nam), họ đến lấy thực phẩm từ những thành phố lân cận nên phải đi từ rất sớm. Là cái quán duy nhất, nên hiếm khi vắng khách, lúc vắng nhất cũng có một vài người. Khách chủ yếu là người Việt, và cũng lắm người Nga quen dùng thức ăn Việt Nam ghé vào.
Loay hoay phục vụ hết đợt khách này đến đợt khách khác, da mặt tái mét lộ vẻ mệt nhoài, nhưng chị vẫn cố giữ nụ cười chiều khách. Khách lắm loại, nhưng phần lớn là những kẻ có một ít tiền đã lên mặt trọc phú, coi mạng người như rơm rác khiến chị lo ngại nhất. Chúng hất hàm ra lệnh, soi mói đến từng cái tăm, ra vẻ đồng tiền của chúng to hơn sự bôn ba vất vả chín nhịn làm mười của người phụ nữ luôn tỏ vẻ nhún nhường chịu đựng một cách khắc khổ. Vì mưu sinh đành cắn răng cho qua vậy… Lại có những đám khách bề ngoài tuy ăn mặc lịch sự, nhưng ăn nói thô tục, bỗ bã luôn ngồi tụm năm tụm ba mưu đồ chuyện buôn bán bất chính. Khoảng đến hơn ba giờ chiều, khi chợ vãn khách, một mình chị lại loay hoay rửa bát, dọn dẹp và chuẩn bị món ăn cho ngày hôm sau, chẳng lúc nào ngơi tay. Đôi khi chị được chồng cũng là một người làm công ăn lương trong một xưởng sản xuất của người Việt phụ giúp, nhưng hiếm khi vì anh cũng rất vất vả làm việc ngày 13 tiếng, chưa kể những lúc làm ca đêm.
Đôi mắt mệt mỏi đờ đẫn giấu dưới cái mũ len xùm xụp không giấu được làn da xanh tái hanh hao trên gương mặt đã sớm phai nét xuân. Đôi bàn tay teo tóp hằn rõ những sợi gân xanh thoăn thoắt hết việc nọ đến việc kia, từ khâu chuẩn bị, nấu nướng đến bưng bê, dọn dẹp, pha nước từ năm giờ sáng đến tám giờ tối, quanh năm ngày tháng không có lấy một ngày ngơi nghỉ, sức chịu đựng của con người trong cuộc mưu sinh tồn tại quả thật phi thường một cách lạ kỳ.
Chị thở dài khi có ai đó ái ngại cho sức khỏe của mình: “Có khách là may lắm rồi, dẫu một người khách cũng là hy vọng, chứ trông vào đồng lương của anh ấy thì không đủ chi tiêu cho cả nhà. Hai cháu đã lớn, xa cha mẹ đã mấy năm nay nương tựa nhờ ông bà già yếu nay ốm mai đau, họ hàng hai bên gia đình đều sống bằng nghề nông, không cố gắng thì lấy gì mà sống!”. Nhắc tới con, hai mắt chị bỗng trở nên đỏ hoe, những giọt nước mắt luôn bị nuốt ngược vào trong bằng mọi sự cố gắng, nay được dịp tuôn trào rơi lã chã xuống vành khăn len dùng để giữ ấm phần cổ, những tiếng nấc nghẹn ngào, cố nén thổn thức như hòa quyện cùng tiếng chim chiều lẻ bạn rời rạc, lạc lõng đến bi thương đang cố vớt vát chút hơi ấm cuối cùng của mùa thu trước khi lên đường di trú đến miền phương nam ấm áp….
Đồng hồ điểm tiếng thứ tám… Bên ngoài cửa, cơn mưa cuối thu lại bắt đầu, hạt mưa lâm thâm thả nhẹ nhàng trên mái tôn của khung cửa sổ bật thành những tiếng kêu tí tách, gió cuộn mình luồn qua khe cửa phà hơi khoan khoái như muốn khoe khoang cái giá buốt đặc biệt của những ngày lập đông, người bảo vệ Tây trong cái áo chống rét to sụ đang lom khom khóa cổng chợ… Chị nhìn quanh kiểm tra sự an toàn của các công tắc điện, khóa cổng quán và cúi chào người bảo vệ già quen thuộc. Con đường vắng vẻ không một bóng người, thi thoảng lắm mới xuất hiện ánh đèn pha loang loáng của chiếc xe cảnh sát lao nhanh trong mưa, chị thở dài ái ngại. Nghĩ đến hai đứa con thơ nơi quê nhà đang từng ngày mong ngóng sự trở về của cha mẹ, quấn lại chiếc khăn trùm đầu cho chặt, chị mạnh dạn bước ra khỏi cổng đi về phía con đường le lói sáng… Gió chợt thổi mạnh khiến một chiếc lá vàng cuối thu xiêu vẹo còn tiếc nuối chưa chịu rời cành lung lay, nghiêng ngã để rồi cuối cùng cuống quít bay theo cái dáng độc hành cô lữ, lạc lõng trong màn mưa đêm buốt giá.
............
Tôi thích và thường hay ghé quán phở bình dân của chị Sa, đều đặn mỗi ngày cuối tuần, không phải chỉ với lý do thức ăn của chị ngon vì luôn được chế biến từ thực phẩm tươi nguyên mà tôi luôn được chị ưu ái đơm cho cả bát tràn đầy, mà vì tôi cảm nhận sự đồng cảm, tình đồng bào nơi chị. Và nhất là tôi tìm thấy cảm giác bình yên, thanh thản đặc biệt mỗi khi bên chị, cái cảm giác đó không phải với bất kỳ người Việt Nam nào khi giao tiếp tôi cũng cảm nhận được. Chị thường vuốt tóc tôi, khen tôi có số sướng, hậu vận sẽ được an nhàn (?!) sau câu trách yêu: “Cô liệu mà lo, bằng tuổi cô bây giờ, chị đã có cháu thứ hai rồi đấy…”. Và chị mỉm cười, nụ cười thanh thản hiếm hoi nở trên làn môi thâm héo hắt vì giá lạnh, vì cuộc mưu sinh xứ người quá vất vả và vì …thời gian. Sau khi quán ăn lại một lần bị đóng cửa do sự thay đổi chính sách kinh doanh của khu chợ, tôi không gặp lại chị. Nghe đâu chị không kinh doanh hàng ăn nữa mà chuyển sang buôn bán lặt vặt tại một khu chợ khác. Chị đổi số điện thoại nên tôi không biết chị hiện nay ra sao. Tôi sẽ cố tìm. Chị Sa ơi, giờ này chị ở đâu?
TranChau
(Mùa đông Moscow 2007)
Chia sẻ những mẩu chuyện vui buồn, cảm xúc, clip, ảnh, blog... về cuộc sống của bạn tại doisong@vnexpress.net