Thứ sáu, 19/12/2008, 10:39 GMT+7

Khủng hoảng thế giới - thêm một cách nhìn

Để đối phó với cuộc khủng hoảng, điều cần thiết là nâng cao tiết kiệm ở các nước kém tiết kiệm, giảm nợ của các hộ gia đình, thay đổi thói quen tiêu dùng... Nhưng đó lại là điều mà không nước nào muốn thử nghiệm vì nó đặt ra câu hỏi về mô hình xã hội. (Đoàn Thư)

Chỉ trong vòng vài tuần, các thị trường chứng khoán chủ yếu của thế giới (New York, Frankfurt, London, Paris, Tokyo, Euronext) đã mất tới 30% giá trị, khoảng 8.000 tỷ USD, gấp 4 lần GDP của nước Anh.

Thị trường chứng khoán của các nước mới nổi còn thảm hơn, thiệt hại ước tính 50%. Riêng thị trường Moscow lập kỷ lục với con số 70%: người ta tính rằng 25 “đại gia” trong số các tài phiệt Nga, mỗi người đã “đánh rơi” 10 tỷ USD. Chưa kể đến những can thiệp từ mùa hè 2007 của các Ngân hàng Trung ương, khoảng vài trăm tỷ, các nước G8 đã phải đưa ra một kế hoạch khẩn cấp nhằm tái cấp vốn cho các ngân hàng: 700 tỷ USD tại Hoa Kỳ, 1.800 tỷ EUR ở Châu Âu, 50 tỷ USD tại Nga.

Cơ man là tiền, nhưng kết quả chẳng có gì sáng sủa: thị trường chứng khoán vẫn lên cơn co giật, danh sách nạn nhân ngày một dài thêm. Gần đây nhất là Argentina, Trung Quốc và ngay cả các nước giàu có vùng Vịnh. Ireland đã rơi vào suy thoái và trở thành nước châu Âu đầu tiên đặt các ngân hàng dưới sự giám sát của Chính phủ còn Iceland thì đang đứng trên bờ vực phá sản, đến mức phải cầu cứu Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)...

Nền kinh tế ảo đã vậy, nền kinh tế thực cũng đang ở vào giai đoạn tăng trưởng chậm lại: IMF dự báo tốc độ tăng trưởng cho năm 2009 chỉ còn đạt từ 0,1 đến 0,5% với các nước tiên tiến, từ 6,1 đến 7,7% tại các nước đang phát triển. Trung Quốc công khai bày tỏ lo ngại là nếu tốc độ tăng trưởng dưới mức 6,6% sẽ xảy ra bất ổn xã hội. Còn tại Nhật Bản, sau lần vỡ bong bóng bất động sản năm 1990 thì toàn bộ nền kinh tế đã bị cuốn trong vòng xoáy thiểu phát hơn mười năm trời.

Hiệu ứng virus Subprimes

IMF đã ước tính số tổn thất trực tiếp (về nhà cửa) của vụ Subprime (tín dụng địa ốc có thế chấp với lãi suất thay đổi) là 425 tỷ USD, tổn thất gián tiếp (đánh giá lại tài sản của các ngân hàng, market to market) là 980 tỷ USD, tổng cộng là 1.405 tỷ USD, tức là chỉ bằng khoảng 1/20 GDP của Mỹ và Châu Âu gộp lại (tính thêm Châu Âu vì một phần không nhỏ những tổn thất này đã được “xuất khẩu” sang Châu Âu). Thế thì tại sao mà sự thiệt hại tương đối nhỏ lẽ ra chỉ tác hại trong phạm vi những ngân hàng Mỹ chuyên về địa ốc, lại có thể lan rộng sang toàn bộ thế giới tài chính, làm biến mất hàng chục nghìn tỷ dollars, và hiện đang đe doạ nền kinh tế toàn cầu?

Cuôc khủng hoảng xảy ra khi một số lớn những người vay tiền mua nhà trả góp vỡ nợ đồng loạt, nhưng không phải chỉ có vậy. Điều đáng nói là ở Mỹ, và ở Anh cũng thế, cơ chế gắn liền giá trị bất động sản với khả năng vay nợ tức là mỗi gia đình có quyền vay thêm nếu giá trị ngôi nhà mà họ đem thế chấp tăng lên. Nói cách khác, người ta dụ dỗ những người muốn mua nhà – dù họ có ít khả năng chi trả – vay tiền không chỉ để mua nhà, mà còn để chi tiêu vào những việc khác.

Tất cả cơ chế đó cần một tiền đề là giá nhà đất chỉ có thể tiếp tục tăng mãi. Và như vậy, từ 2000-2006, món nợ địa ốc của các gia đình Mỹ đã lên tới 1.300 tỷ USD; năm 2007, con số là 11.000 tỷ USD, trong đó 1.500 tỷ được cho vay thêm trên những thế chấp đã có. Tóm lại, virus Subprimes đã được tạo ra bằng một chính sách tín dụng thả phanh, gắn liền tiêu dùng với đầu cơ địa ốc. Và tất nhiên, thị trường bất động sản chẳng thể tăng mãi...

Năm 2007, 1,5 triệu đơn vị nhà cửa đã bị niêm phong ở Mỹ, năm nay con số ấy có thể vọt lên 3 triệu. Ở Anh, cũng nguyên nhân đó đã gây ra hậu quả y hệt: 2 triệu gia đình đang dính bẫy tương tự như Subprimes, và năm nay, khoảng 45.000 ngôi nhà sẽ bị tịch biên.

Bởi các nhà điều hành đã nhắm mắt làm ngơ khi các “thiên tài” của giới tài chính đã tìm cách lách luật bằng thứ gọi là chứng khoán hoá tức là biến tín dụng đi vay thành tích sản tài chính. Một mũi tên trúng ba đích: bán tích sản cho các nhà đầu tư, đưa rủi ro ra ngoài bảng tổng kết tài sản, tăng nguồn vốn. Thế là nhờ những “ống dẫn” không hề thấy trong bảng tổng kết tài sản của các ngân hàng, virus đã được phát tán ra khắp thế giới...

Xét một ví dụ: leverage buy out, một mẹo tài chính cho phép mua lại một công ty mà chỉ cần chi trả một phần nhỏ giá trị thực của nó, phần còn lại được chi trả bằng tiền vay. Khác biệt ở đây là lãi vay không do người mua, mà do doanh nghiệp bị mua trả, trong khi đó thì holding quản lý việc mua lại được thành lập với mục tiêu cụ thể là tập trung vào việc tái tổ chức lại doanh nghiệp với mục tiêu là nặn ra tối đa lợi nhuận trước khi đem doanh nghiệp ra bán lại.

Bảng tổng kết tài chính càng bị “thổi” cao bao nhiêu, thì giá trị ròng càng nhạy cảm với thị trường bấy nhiêu. Vì vậy mà từ khi khủng hoảng Subprimes, xảy ra một phản ứng dây chuyền: để làm nhẹ sổ nợ, chứng khoán được tung ra bán ồ ạt, cuộc đua này chỉ chấm dứt khi thuyên giảm được đòn cân nợ có khi lên tới 10 lần thặng dư sản xuất! Có lý do để lo lắng rằng cuộc khủng khoảng sắp tới sẽ là khủng hoảng leverage buy out: hàng trăm tỷ USD đang mai phục trong bảng tổng kết tài sản của các tổ chức tài chính.

Bong bóng kinh tế thế giới

Sự nổ tan của bong bóng tài chính chưa hoàn toàn là bản chất của khủng hoảng. Cần nhớ lại những bong bóng đã nổ trong suốt một phần tư thế kỷ qua: khủng hoảng cổ phần những năm 1980, khủng hoảng công nghệ mới trong ngành truyền thông những năm 1990, khủng hoảng Subprimes từ 2002, và cũng phải nhắc đến cuộc khủng hoảng bất động sản năm 1990 ở Nhật Bản và khủng hoảng tài chính ở Châu Á hồi 1997... Cùng một kịch bản: đua nhau đầu cơ vào một số tích sản, khiến cho lợi nhuận rất ca o, những khoản vay cũng cao theo, cho đến lúc thị trường điều chỉnh thì xảy ra phá sản hàng loạt.

Trong sơ đồ cổ điển của chủ nghĩa tư bản thì những chu kỳ suy thoái và tăng trưởng có những triệu chứng rất dễ nhận ra, như lạm phát ở cuối mỗi chu kỳ tăng trưởng hay tăng lãi suất mỗi khi khởi đầu một chu kỳ suy thoái... Trong sơ đồ hiện đại, sự nổ bong bóng là hậu quả khi quá trình tăng giá tích sản và nợ tới một mức nào đó, và nó có thể xảy ra bất cứ khi nào, không liên quan gì tới hiện trạng nền kinh tế thực. Như đã biết: cuộc khủng hoảng Subprimes đã nổ ra tại Hoa Kỳ trong hoàn cảnh lạm phát không cao và lãi suất thấp.

Sau một phần tư thế kỷ toàn cầu hoá kinh tế, đang xảy ra sự giao nhau giữa một thế giới đang xuống dốc (những nước phát triển) và một thế giới đang nổi lên. Một bên với dân số ngày càng già, khoảng 450 triệu lao động ăn lương cao, năng suất tăng thấp (1%/năm), tăng trưởng thấp (2%/năm), tiết kiệm thấp (Hoa Kỳ gần như không có tiết kiệm), bên kia với khối dân số trẻ và có ý chí thoát khỏi tình trạng kém phát triển, 2,3 tỷ lao động ăn lương thấp, năng suất tăng nhanh (6%), tăng trưởng tốt (7,5%), tiết kiệm cao (38% GDP)...

Lợi thế duy nhất mà các nước phát triển còn là đi trước về khoa học – kĩ thuật, nhưng điều này sẽ chẳng lâu dài với hệ tư tưởng đầu tư cho nghiên cứu – phát triển không được ưu tiên. Như vậy là có thể thấy trước kết quả cạnh tranh giữa hai khối.

Các nước mới nổi không sử dụng tiết kiệm của mình và không thu hút vốn bên ngoài để đầu tư và xây dựng kết cấu hạ tầng hòng duy trì sự phát triển bền vững, mà thay vào đó, dòng vốn lại chảy ngược từ châu Á sang Hoa Kỳ.

Năm 2007, dự trữ ngoại hối của các nước mới nổi lên đến 2.400 tỷ USD (Châu Á) và 1.000 tỷ USD (Nga và OPEC); xuất siêu cả khối lên đến 600 tỷ USD trong khi tổng nhập siêu của các nước phát triển vượt qua con số 1.100 tỷ USD; thanh kho ản thế giới tăng lên mỗi năm 14%.

Các nước mới nổi, là những nước có tỷ lệ tiết kiệm cao, đã cho Mỹ và Tây Âu vay số vốn tiết kiệm được, chủ yếu dưới dạng dự trữ ngoại hối tại các ngân hàng trung ương, do vậy tổng lượng thanh khoản trên toàn thế giới đã tăng cao và lãi suất cho vay dài hạn hạ thấp; và cũng do vậy, tín dụng tăng trưởng ồ ạt, kèm theo là giai đoạn bùng nổ giá tích sản. Có thể ước tính, trong suốt thời gian chưa nổ, bong bóng Subprimes đã làm tăng tỷ lệ tăng trưởng hàng năm lên 1,5% tại Anh, 1% tại Hoa Kỳ và 0,6% ở khu vực đồng Euro. Đổi lại, các nước này xuất khẩu ra thế giới những sản phẩm tài chính “tân kỳ” và chưa biết sắp tới họ sẽ thay thế bằng thứ hấp dẫn gì khác. Bởi vì theo logic của kinh tế bong bóng, sơ đồ cổ điển “Lạm phát – nâng lãi suất – thiểu phát / Suy thoái – hạ lãi suất – khởi động lại” không còn giá trị: muốn khởi động lại guồng máy kinh tế sau vụ nổ bong bóng, nhất thiết phải dựa vào một loại tích sản mới. Vì thế mà đã xuất hiện hiện tượng đầu cơ về nguyên - nhiên - vật liệu (xăng, dầu, kim loại...), và cả lương thực, nghĩa là đầu cơ cả trên cuộc sống hàng ngày của con người.

Để đối phó với cuộc khủng hoảng, điều cần thiết là tăng tốc sự tái cân bằng, chẳng hạn như: nâng cao tiết kiệm ở các nước kém tiết kiệm (chính sách tiền tệ thắt chặt hơn, giảm nợ của các hộ gia đình, thay đổi thói quen tiêu dùng...) hạ bớt tiết kiệm tại các nước tỷ lệ tiết kiệm quá cao (tăng đầu tư công, cải thiện chế độ phúc lợi xã hội, tăng chi tiêu về giáo dục, y tế...). Nhưng đó lại là lĩnh vực mà không nước nào muốn thử nghiệm vì nó đặt ra câu hỏi về mô hình xã hội.

Chẳng hạn người Mỹ khó có thể từ bỏ lối sống Mỹ gây ra siêu tiêu dùng và siêu vay nợ. Ngược lại, mỗi lần xảy ra khủng hoảng lại thấy có những chính sách giảm l ãi suất và bơm thêm thanh khoản. Để điều trị một hệ thống mang bệnh vì quá nhiều thanh khoản mà lại bơm thêm thanh khoản vào thì kết quả có thể đoán trước được. Một kết quả không quá khó hình dung: giống như “thập niên trắng của Nhật Bản” ở quy mô toàn thế giới. Một khi thanh khoản chẳng dùng làm gì khác là đem đầu tư vào các thanh khoản. Đã thấy người ta đổ xô đi mua công trái của Kho bạc Hoa Kỳ – làm cho đồng Dollar lên giá – khi mà nền kinh tế Hoa Kỳ trải qua thời điểm đen tối nhất trong lịch sử…

Link Site
CÁC CHỦ ĐỀ BẠN ĐỌC QUAN TÂM
Lien he quang cao